Chương 1: Về Triển Lãm IBC

Chương 1: Về Triển Lãm IBC
Cập nhật 05/2022

TRIỂN LÃM IBC LÀ GÌ?
Triển lãm Cá Chọi Xiêm Hội Đồng Betta Quốc Tế (IBC – International Betta Congress) (thường được gọi là Triển Lãm Betta) là cuộc trưng bày lớn của một trong những loài hấp dẫn nhất thuộc thế giới cá cảnh. Mặc dù loài cá lấy tên gọi phổ biến của mình từ Trò Thể Thao Phương Đông, IBC không chấp nhận việc đá cá betta. Do đó, triển lãm IBC, về thực chất, là một cuộc thi sắc đẹp (beauty contest). Qua nhiều năm trời, các thành viên IBC đã cải thiện mạnh mẽ hình dạng và màu sắc của cá qua việc lai tuyển chọn rộng rãi. Cá betta ngày nay là một công trình di truyền kỳ diệu; thành quả của nhiều năm trời lao động cật lực bởi người chơi cá trên khắp thế giới. Hệ thống triển lãm và các nguyên tắc đánh giá IBC đều dựa trên những biến dị (variations) này.

TẠI SAO IBC TỔ CHỨC TRIỂN LÃM?
Giống như bất kỳ triển lãm động vật hay Hội chợ Bang (State Fair) nào, luôn có huy chương (ribbons) hay cúp (trophies) để đoạt lấy. Nhưng quan trọng hơn, IBC hỗ trợ mạng lưới triển lãm (show circuit) bởi cạnh tranh thúc đẩy sự phát triển của chi cá Betta vì người dự thi (exhibitors) phải vượt nhau trong việc tạo ra những biến dị màu sắc và hình dạng betta mới. Dĩ nhiên, mỗi người đều có lý do riêng của mình: điểm số, cúp, danh tiếng hay chỉ để cho vui.

VÙNG ĐÁNH GIÁ IBC LÀ GÌ?
Hội Đồng Betta Quốc Tế (International Betta Congress) được chia thành 7 vùng đánh giá (judging areas). Điều này được thực hiện nhằm khắc phục những vấn đề hiển nhiên trong việc duy trì một hệ thống triển lãm betta, mà nó phải đấu tranh với hệ thống bưu điện quốc gia, các tuyến hàng không và bất đồng ngôn ngữ. Tiêu Chuẩn Triển Lãm (Exhibition Standards) này phục vụ như là hướng dẫn (guidelines) cho thành viên ở các vùng. Mỗi vùng có thể điều hành mạng lưới triển lãm riêng, độc lập với các triển lãm quốc tế. Giới hạn vùng là không cứng nhắc, hay không cản trở người dự thi trong việc triển lãm cá betta của họ ở những vùng bên ngoài nơi cư trú của mình.

Phân vùng IBC

PHÂN VÙNG IBC LÀ GÌ?
Mỗi vùng IBC có thể tự chia thành các phân vùng (districts). Lợi ích của điều này là vẫn cho phép các khu vực địa lý nhỏ hơn cho triển lãm IBC. Bản đồ ở Hình (Figure) 2 là sự phân vùng của Bắc Mỹ, vốn thuộc Vùng 1.

 

 

 

ibc_district_area1
ibc_district_area1

TẠI SAO CÓ NHIỀU LOẠI TRIỂN LÃM KHÁC NHAU?
Một số nhóm đơn giản không thể đăng cai (host) triển lãm thật lớn, vì vậy IBC đã xây dựng nhiều loại [triển lãm] khác nhau (cơ bản về quy mô) để cho phép mọi người có cơ hội tổ chức triển lãm. Năm triển lãm IBC bắt đầu từ ngày 1 tháng Bảy tiếp sau Hội Nghị Lớn (General Convention) hàng năm (thường vào cuối tháng Sáu), và kết thúc bằng Hội Nghị Lớn của năm.

TRIỂN LÃM CẤP PHÂN VÙNG (DISTRICT LEVEL)

TRIỂN LÃM CHỨNG THỰC IBC:
Triển Lãm Chứng Thực (Certified Show) là nhỏ nhất trong bốn loại triển lãm. Nó bao gồm hai, bốn hay sáu lớp (class) và phù hợp với một cộng đồng cá cảnh trong việc duy trì sự kết nối với triển lãm cá cảnh lớn thường niên của mình. Nó cho phép họ nhận được sự chấp thuận chính thức của IBC vì những nỗ lực của mình, điều vốn không xảy ra với triển lãm betta điển hình hay phân khu (section) của hầu hết triển lãm cá cảnh. Một cách tự nhiên, Triển Lãm Chứng Thực nhận được vài con ở những vùng ngoại thành, nơi nó diễn ra. Một sự kiện địa phương nói chung, 10 đến 30 cá có thể được mong đợi trong loại triển lãm này. Không có giới hạn về số lượng Triển Lãm Chứng Thực được tổ chức trong một năm.

TRIỂN LÃM PHÂN VÙNG IBC:
Triển Lãm Phân Vùng (District Show) là triển lãm lớn hơn kế tiếp, nhưng vẫn là triển lãm quy mô trung bình. Cá từ khắp vùng IBC có thể được mong đợi, nhưng hầu hết sẽ đến từ phân vùng (district) nơi triển lãm được tổ chức. Mong đợi 50-150 con. Một triển lãm phân vùng được phép hạn chế các hạng mục (entries) đến không quá 100-150 cá, với việc đăng ký được ưu tiên cho thành viên phân vùng trước rồi mới cho phép phần còn lại của vùng (area). Không có giới hạn về số lượng Triển Lãm Phân Vùng trong một năm; tuy nhiên, không cái nào được tổ chức trùng dịp cuối tuần với triển lãm phân vùng khác hay triển lãm vùng được lên lịch trong cùng Vùng IBC. Một Triển Lãm Phân Vùng bao gồm khoảng một tá bảng (division) hay đại loại, mặc dù số lượng có thể thay đổi chút ít tùy năm. (Xem Danh Sách Bảng Triển Lãm IBC chính thức được thấy ở Chương 10).

TRIỂN LÃM CẤP VÙNG

TRIỂN LÃM QUỐC TẾ IBC:
Triển Lãm Quốc Tế IBC (International Show) là triển lãm thông thường lớn nhất được tổ chức trong năm. Số lượng thí ngư điển hình 300-500 và được nhận từ mọi phân vùng trong vùng, bao gồm một số từ những quốc gia khác. Một Triển Lãm Quốc Tế IBC không được phép giới hạn số lượng hạng mục xuống dưới 300 (dù họ có thể nhận được ít hơn). Thuật ngữ Triển Lãm Quốc Tế và Triển Lãm Vùng là tương đương, mặc dù cái sau hiếm được sử dụng. Không có giới hạn về số lượng Triển Lãm Quốc Tế vốn có thể được tổ chức ở mỗi Vùng trong năm. Tuy nhiên, chúng không được diễn ra trong vòng hai tuần của một triển lãm khác ở cùng vùng, hay trùng dịp cuối tuần với một Triển Lãm Phân Vùng được lên lịch trước đó ở cùng phân vùng. Một triển lãm vùng được ưu tiên bên trong một phân vùng. Trưng bày bao gồm những bảng tương tự được thấy ở Triển Lãm Phân Vùng, nhưng với sự phân chia xa hơn thành nhiều lớp dự thi riêng, số lượng chính xác thường thay đổi tùy năm. (Xem Danh Sách Bảng Triển Lãm IBC chính thức được thấy ở Chương 10).

Lưu ý về vấn đề thời tiết: Triển Lãm Quốc Tế không nên tổ chức từ 15 tháng Mười Một đến 15 tháng Ba ở Bắc Bán Cầu bởi nguy cơ mùa đông khắc nghiệt ảnh hưởng lên thí ngư là lớn nhất vào thời gian này. Lưu ý đặc biệt phải được thực hiện để bảo vệ cá betta được trưng bày trong thời tiết rất nóng cũng như rất lạnh.

TRIỂN LÃM HỘI NGHỊ IBC:
Một Hội Nghị (Convention) luôn được tổ chức đồng thời với đại hội thành viên thường niên của IBC. Số lượng Triển Lãm Hội Nghị điển hình là 600-1000 hạng mục từ khắp thế giới. Mỗi vùng IBC có thể chọn tổ chức triển lãm hội nghị vùng của riêng mình. Tuy nhiên, chỉ một Vùng có thể đăng cai Hội Nghị Lớn (ở chỗ Hội Nghị Vùng của nó).

Có thể có ba loại Hội Nghị:
● Hội Nghị IBC (IBC Convention) được tổ chức nhân danh mọi thành viên IBC. Có tối đa một hội nghị mỗi năm. Nó bao gồm cấu trúc lớp tương tự như Triển Lãm Quốc Tế, với sự bổ sung của các lớp tùy chọn (optional) hay không-cá (non-fish) dành cho nghệ thuật, đồ mỹ nghệ và đại loại. Triển Lãm Hội Nghị thường lớn nhất và thường là triển lãm sau cùng trong chuỗi triển lãm (show cycle) của vùng đó.

● Hội Nghị Vùng IBC (IBC Area Convention) tùy chọn, một cái có thể được tổ chức cho các thành viên thuộc vùng. Có tối đa một hội nghị mỗi vùng, mỗi năm. Cấu trúc lớp tương tự được sử dụng như Triển Lãm Quốc Tế hay Hội Nghị IBC của vùng đó.

● Hội Nghị Phân Vùng IBC (IBC District Convention) có thể được tổ chức cho các thành viên thuộc một phân vùng, mặc dù nó không bắt buộc. Hội nghị này bao gồm cấu trúc lớp tương tự như Triển Lãm Phân Vùng, nhưng có thể bao gồm các lớp tùy chọn (optional) hay không-cá (non-fish) tùy ý muốn của nhà đăng cai.

GIẢI THƯỞNG (AWARDS)

CHỨC VÔ ĐỊCH CUỐI NĂM CẤP PHÂN VÙNG (DISTRICT LEVEL YEAR END CHAMPIONSHIPS)

VÔ ĐỊCH BẢNG PHÂN VÙNG (DISTRICT DIVISION CHAMPIONS): Thí sinh (exhibitors) với điểm số cao nhất thu được ở mỗi bảng trong các Triển Lãm Chứng Thực, Phân Vùng và Hội Nghị Phân Vùng tại mỗi phân vùng vốn tổ chức ít nhất hai triển lãm như vậy, trở thành nhà Vô Địch Bảng của phân vùng đó.

ĐẠI VÔ ĐỊCH PHÂN VÙNG (DISTRICT GRAND CHAMPION): Thí sinh với điểm số cao nhất thu được ở các Triển Lãm Chứng Thực, Phân Vùng và Hội Nghị Phân Vùng tại mỗi phân vùng vốn tổ chức ít nhất hai triển lãm như vậy, trở thành Đại Vô Địch phân vùng đó. Bất kỳ giải thưởng đặc biệt nào cho những thí sinh này tùy thuộc vào thành viên của phân vùng đó. Nhà Vô Địch Bảng và Đại Vô Địch Phân Vùng có thể hoặc không cư ngụ ở phân vùng.

CHỨC VÔ ĐỊCH CUỐI NĂM CẤP QUỐC TẾ (INTERNATIONAL LEVEL YEAR END CHAMPIONSHIPS)

Điểm số cuối-năm của Vùng chỉ dành cho người ở Vùng đó. Thí sinh ngoài-Vùng sẽ cạnh tranh các giải thưởng triển lãm, nhưng không cho giải cuối-năm. Vùng sẽ theo địa chỉ được đăng ký bởi IBC, trừ phi tự chọn. Người vốn sống/hoạt động một cách hợp pháp ở hai Vùng có thể là một ngoại lệ về Vùng của mình nếu họ đăng ký với Ban Trọng Tài.

Vô Địch Lớp Quốc Tế (International Class Champions): Thí sinh với điểm số lớp cao nhất thu được ở mỗi trong số các lớp được trưng bày tại Triển Lãm Quốc Tế và Hội Nghị Lớn/Vùng sẽ được công nhận như là Vô Địch Lớp Quốc Tế trong mỗi lớp tương ứng ở mỗi Vùng.

Vô Địch Bảng Quốc Tế (International Variety Champions): Thí sinh với điểm số cao nhất thu được ở mỗi bảng (variety) – được trưng bày tại Triển Lãm Quốc Tế và Hội Nghị Lớn/Vùng sẽ được công nhận như là Vô Địch Bảng Quốc Tế trong mỗi bảng tương ứng ở mỗi Vùng.

Đại Vô Địch Quốc Tế (International Grand Champion): Thí sinh với tổng điểm số cao nhất thu được ở tất cả Triển Lãm Quốc Tế và Hội Nghị Lớn/Vùng sẽ được công nhận như là Đại Vô Địch Quốc Tế ở mỗi Vùng.

Top 20 Quốc Tế (International Top 20): Thí sinh với tổng điểm thu được từ Triển Lãm Quốc Tế và Hội Nghị Lớn/Vùng xếp từ 2 đến 20 sẽ được công nhận cho vị trí tương ứng ở mỗi Vùng.

TRAO GIẢI

Với Một Triển Lãm Cá Nhân (Individual Show): Phương pháp trao giải với người hiện diện tại triển lãm là tùy vào ban triển lãm. Thường có một lễ trao giải khi mà kết quả được công bố và giải thưởng được trao. Công bố chính thức là kết quả được đăng trên tờ FLARE! Với người chiến thắng vốn không thể tham dự triển lãm, các giải thưởng sẽ được gửi qua bưu điện.

Với Giải Thưởng Thường Niên (Yearly Awards): IBC tổ chức một lễ trao giải tại mỗi Hội Nghị. Khi đó, các giải thưởng của chính Triển Lãm Hội Nghị được trao bởi ban triển lãm và được tiếp nối bởi giải thưởng IBC thường niên. Vùng hay phân vùng có thể tổ chức lễ trao giải như vậy nếu muốn. Giải IBC cuối-năm được trao bởi Trưởng và Lục Sự Ban Trọng Tài (Hội nghị Lớn); Đại Diện Vùng (Hội Nghị Vùng) hay Đại Diện Phân Vùng (Hội Nghị Phân Vùng).

GIẢI THƯỞNG HỘI NGHỊ (CONVENTION AWARDS)

Vô Địch Lớp Quốc Tế (International Class Champions) (Một cho mỗi lớp, đặt tên chẳng hạn: Vô Địch Lớp Đỏ Đuôi Đơn Đực).

Vô Địch Bảng Quốc Tế (International Variety Champions) (Một giải Vô Địch Bảng cho mỗi Bảng).

Một cúp Tưởng Niệm Warren Young – giải cho thí sinh, người đạt nhiều điểm số Cá Đẹp Nhất (Best of Show) nhất trong năm triển lãm.

Một cúp hay huy chương Chủ Tịch – được trao cho thí sinh, người đạt điểm số cao nhất tại triển lãm hội nghị và thường được trao bởi Chủ Tịch IBC (hay Đại Diện Vùng).

Một cúp Đại Vô Địch – giải cho thí sinh với tổng điểm Triển Lãm Quốc Tế cao nhất trong một năm triển lãm.

Top 20 – Thí sinh xếp thứ 2 đến 20 theo tổng điểm Triển Lãm Quốc Tế trong một năm triển lãm. Top 10 nhận huy chương (plaques), 11 đến 20 nhận bằng danh dự hạng ưu (premium certificates of merit).

Giải Triển Lãm Hội Nghị (Convention Show Awards): Một giải cho mỗi vị trí nhất, nhì và ba ở mỗi lớp Triển Lãm Hội Nghị, và một giải cho mỗi vị trí nhất, nhì và ba ở mỗi lớp Nhà Lai Tạo Mới.

Một giải cho mỗi người chiến thắng Cá Nhất Bảng (Best of Variety), đực và cái. Một giải cho mỗi người chiến thắng Cá Nhì Bảng (Reserve Best of Variety), đực và cái.

Một giải cho mỗi người chiến thắng Cá Đẹp Nhất và Cá Đẹp Nhì, đực và cái – giữa các lớp Triển Lãm Hội Nghị [chính thức], và một giải cho mỗi người chiến thắng Cá Đẹp Nhất và Cá Đẹp Nhì, đực và cái – giữa các lớp Nhà Lai Tạo Mới.

ĐIỂM SỐ

Điểm Phân Vùng: Điểm cấp phân vùng được tính bởi Đại Diện Phân Vùng trừ phi không có ai ở phân vùng đó. Thay vào đó Lục Sự Ban Trọng Tài sẽ nắm điểm số được tính.
● Từ một Triển Lãm Chứng Thực – điểm số chỉ được tính cho các giải Vô Địch Bảng Phân Vùng.
● Từ một Triển Lãm Phân Vùng – điểm số chỉ được tính cho các giải Vô Địch Bảng và Đại Vô Địch Phân Vùng.
● Từ một Triển Lãm Hội Nghị Phân Vùng – điểm số cũng được tính cho các giải Vô Địch Bảng và Đại Vô Địch Phân Vùng.

Điểm Quốc Tế: Điểm cấp quốc tế được tính bởi Lục Sự Ban Trọng Tài cho mọi vùng.
● Từ một Triển Lãm Quốc Tế: điểm số được tính cho các giải Vô Địch Lớp, Bảng, và Đại Vô Địch/Top 20 Quốc Tế IBC.
● Từ một Triển Lãm Hội Nghị Lớn hay Vùng: điểm số cũng được tính cho các giải Vô Địch Lớp, Bảng, và Đại Vô Địch/Top 20 Quốc Tế.

Với điểm số Cá Đẹp Nhất cao nhất, IBC trao một giải thưởng đặc biệt cho cá nhân vốn đạt tổng điểm Cá Đẹp Nhất cao nhất trong các Triển Lãm Quốc Tế và Hội Nghị Lớn/Vùng. Giải thưởng này được gọi là Giải Tưởng Niệm Warren Young nhằm tôn vinh một trong những nhà lai tạo betta vĩ đại tiên phong.

TỔNG KẾT ĐIỂM

Số điểm được cho: Nhất Nhì Ba
Chứng Thực 20 10 5
Phân Vùng 20 10 5
Quốc Tế 20 10 5
Hội Nghị Phân Vùng 30 15 10
Hội Nghị Vùng 30 15 10
Hội Nghị IBC 30 15 10

Điểm Triển Lãm Chứng Thực chỉ tính cho giải Vô Địch – Bảng Phân Vùng; không cho giải Vô Địch Bảng Quốc Tế. Điểm Hội Nghị và Triển Lãm Phân Vùng tính cho giải Vô Địch Bảng và Đại Vô Địch Phân Vùng.

Điểm Triển Lãm Quốc Tế, Hội Nghị Vùng và Hội Nghị IBC tính cho giải Vô Địch Lớp, Bảng, và Đại Vô Địch/Top 20 Quốc Tế. Có những giải Vô Địch Lớp riêng cho Nhà Lai Tạo Mới.

Mỗi giải Cá Đẹp Nhất (BOS) và Cá Đẹp Nhì (RBOS) đực và cái nhận một điểm thưởng (bonus) theo thang ở dưới. Điểm BOS và RBOS tính cho giải Warren Young, và Đại Vô Địch/Top 20. Điểm Cá Nhất Bảng và Cá Nhì Bảng tính cho các giải vô địch Lớp, Bảng, Đại Vô Địch/Top 20. Điểm BOS và RBOS Nhà Lai Tạo Mới đực và cái tính cho giải Vô Địch Lớp Nhà Lai Tạo Mới. Điểm BOS và RBOS phân vùng tính cho giải Đại Vô Địch Phân Vùng.

ĐIỂM THƯỞNG CÁ ĐẸP NHẤT

Những điểm thưởng (bonus) sau đây sẽ được áp dụng khi thích hợp:

Với Triển Lãm Quốc Tế
Nhóm A:
Cá Đẹp Nhất Đực/Cái: 100
Cá Đẹp Nhì Đực/Cái: 80
Cá Nhất Bảng Đực/Cái: 40
Cá Nhì Bảng Đực/Cái: 30

Nhà Lai Tạo Mới Nhóm B:
Cá Đẹp Nhất Đực/Cái: 40
Cá Đẹp Nhì Đực/Cái: 30

Với Triển Lãm Hội Nghị Lớn/Vùng
Nhóm A:
Cá Đẹp Nhất Đực/Cái: 125
Cá Đẹp Nhì Đực/Cái: 100
Cá Nhất Bảng Đực/Cái: 60
Cá Nhì Bảng Đực/Cái: 45

Nhà Lai Tạo Mới Nhóm B:
Cá Đẹp Nhất Đực/Cái: 60
Cá Đẹp Nhì Đực/Cái: 45

Với Triển Lãm Phân Vùng
Cá Đẹp Nhất Đực/Cái: 40
Cá Đẹp Nhì Đực/Cái: 25

Với Triển Lãm Chứng Thực
Cá Đẹp Nhất: 40

PHÍ

Có ba loại phí:

Phí Chấp Thuận Triển Lãm (Show Sanction Fee): Số tiền được tính cho câu lạc bộ đăng cai bởi IBC cho việc chấp thuận một triển lãm.

Phí Tham Dự Triển Lãm (Show Entry Fee): Số tiền được tính cho thí sinh (entrant) bởi nhà đăng cai cho việc triển lãm cá của mình.

Phí Trọng Tài (Judge Fee): Số tiền được trả cho trọng tài cho dịch vụ của anh hay cô ta. (Xem Chương 2)

Phí chấp thuận triển lãm hiện hành là 25 đô-la cho một Triển Lãm Quốc Tế, 15 đô-la cho một Triển Lãm Phân Vùng, và 5 đô-la cho một Triển Lãm Chứng Thực.

Mọi phí chấp thuận được gửi đến Trưởng Ban Trọng Tài hay người được ủy nhiệm của anh/cô ta cùng với yêu cầu chấp thuận. Phí chấp thuận phải được thanh toán TRƯỚC KHI triển lãm được chính thức chấp thuận. Ngày triển lãm yêu cầu có thể được bảo lưu trong 10 ngày bằng việc gửi e-mail đến Trưởng Ban Trọng Tài hay người được ủy nhiệm để xác định câu lạc bộ, loại triển lãm và ngày yêu cầu. Phí chấp thuận phải được nhận trong vòng 10 ngày kể từ hôm gửi e-mail bằng không ngày sẽ không được bảo lưu cho câu lạc bộ đó nữa và sẽ trở nên sẵn sàng cho bất kỳ câu lạc bộ nào khác. Phí chấp thuận có thể được gửi cho bettacongress@yahoo.com thông qua PayPal. IBC sẽ chuyển phí chấp thuận từ triển lãm cấp phân vùng cho Đại Diện Phân Vùng. Nếu không có Đại Diện Vùng hay Phân Vùng, quỹ phải được chuyển về IBC quản lý cho đến khi một Đại Diện Vùng/Phân Vùng được bầu. Khi đó, IBC sẽ chuyển quỹ này cho người đại diện thích hợp.

Vùng 1 hiện có phí Tham Dự chuẩn với 2 đô-la mỗi thí ngư và 3 đô-la cho cặp. Cấu trúc phí vùng khác thay đổi tùy Chi Hội đăng cai triển lãm. Câu lạc bộ đăng cai có thể đặt ra bất kỳ giá trị nào cho phí tham dự bằng hay cao hơn mức tối thiểu miễn bất kỳ khác biệt nào so với “chuẩn 2 đô-la” được công bố rộng rãi. Nếu không nói khác đi trong quảng bá triển lãm, thí sinh sẽ coi giá trị “chuẩn” là đúng.

Triển Lãm IBC cũng đôi khi cũng mở cho các thí sinh ngoài-IBC, nếu chi hội đăng cai triển lãm cho phép điều đó. Thí sinh ngoài (non-member) trả ít nhất 150-200% nhiều hơn thành viên IBC về phí tham dự. Cho ví dụ 200%: Với Vùng 1, đó sẽ là 2 đô-la/hạng mục với thành viên IBC và 4 đô-la/hạng mục với người-ngoài. Với Vùng 2, nó biến thiên, nhưng nhiều nơi sẽ là 3.5 euro/hạng mục với thành viên IBC và 5.00 euro/hạng mục với người-ngoài. Với Vùng 6, nó biến thiên. Với Vùng 7, nó biến thiên, nhưng nhiều triển lãm sẽ là 3 đô Úc/hạng mục với thành viên IBC và 6 đô Úc/hạng mục với người-ngoài. Với người-ngoài, có một lộ trình cho vị trí Thành Viên IBC bên trong mạng lưới triển lãm. Nếu người-ngoài tham dự 8 con hay nhiều hơn trong một triển lãm như là thí sinh ngoài-IBC, họ có một tùy chọn để trở thành thành viên IBC. Thành Viên Triển Lãm sẽ theo dõi việc này và đăng ký vị trí thành viên với IBC.

Mỗi chi hội cũng có thể tạo ra cấu trúc phí khích lệ của riêng mình, chẳng hạn phí thấp hơn cho thành viên chi hội. Thí sinh phải cẩn thận ôn duyệt mỗi bài đăng thông tin triển lãm của chi hội để biết sự khuyến khích và cấu trúc phí của họ.

PHÂN BỔ QUỸ ĐẤU GIÁ CHO HẠNG MỤC TRIỂN LÃM

Quỹ được thu bởi câu lạc bộ đăng cai từ việc bán đấu giá sẽ được phân chia giữa chủ hạng mục được bán với câu lạc bộ đăng cai hay đơn vị được chỉ định khác.

Những hạng mục đấu giá đặc biệt (không-cá hay cá không-tham dự) không bị áp đặt bởi sự phân chia được trình bày ở dưới và sẽ được quyết định theo ý muốn của nhà đăng cai triển lãm.

Trừ phi được quảng bá khác đi, tiền từ việc đấu giá các hạng mục triển lãm sẽ là 75% cho thí sinh, 25% cho nhà đăng cai triển lãm. Tiền cho những hạng mục đấu giá đặc biệt có thể được chia 50% thí sinh, 50% nhà đăng cai triển lãm.

Phân chia lợi tức cho tất cả các hạng mục đấu giá kể cả hạng mục triển lãm dành cho đấu giá ở tất cả Hội nghị IBC là 75/15/10 tương ứng giữa thí sinh, IBC và câu lạc bộ đăng cai. Nếu câu lạc bộ đăng cai không mong muốn tham gia cuộc Đấu Giá Hội Nghị Lớn, họ phải thông báo cho Trưởng Ban Trọng Tài ít nhất 30 ngày trước buổi đấu giá, trong trường hợp đó tiền đấu giá sẽ là 75% cho thí sinh và 25% cho IBC.

IBC Exhibition Standards 2021 - Sưu tầm bảng dịch tại Web: Diễn Đàn Cá Cảnh